Để thực hiện được điều đó, cần thực hiện nghiêm Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 10/4/2024 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định; các văn bản, chỉ đạo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về xử lý các hành vi liên quan đến IUU; Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP ngày 12/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi liên quan đến khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép thủy sản (Nghị quyết số 04/2024).
1. Tổ chức, môi giới đưa tàu cá, ngư dân khai thác trái phép ngoài vùng biển Việt Nam
Đây là hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép” quy định tại Điều 348 Bộ luật Hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Đối tượng phạm tội thường là chủ tàu cá, thuyền trưởng hoặc người quản lý, điều hành tàu cá. Để che giấu hành vi vi phạm, các đối tượng sử dụng nhiều thủ đoạn như:
(1) Tuyển dụng ngư dân, chuẩn bị nhiên liệu, lương thực, ngư cụ để tổ chức khai thác trái phép.
(2) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thủ tục xuất, nhập bến theo quy định.
(3) Tẩy xóa, thay đổi số đăng ký, đặc điểm nhận dạng của tàu cá; sử dụng tàu không quốc tịch hoặc ngụy trang tàu theo đặc điểm của tàu nước ngoài.
(4) Không ghi chép hoặc ghi chép không trung thực nhật ký khai thác; xóa dữ liệu hành trình để che giấu khu vực khai thác.
(5) Không đưa tàu cập cảng mà bán trực tiếp sản phẩm trên biển cho tàu thu mua nhằm tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng.
(6) Cấu kết với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đưa tàu cá sang vùng biển nước ngoài khai thác trái phép, tiêu thụ sản phẩm và chia lợi nhuận.
2. Can thiệp trái phép vào thiết bị giám sát hành trình tàu cá
Thiết bị giám sát hành trình (VMS) là căn cứ quan trọng để quản lý hoạt động khai thác thủy sản. Tuy nhiên, nhiều đối tượng đã cố tình vô hiệu hóa hoặc can thiệp trái phép vào thiết bị nhằm che giấu hành trình khai thác.
Các thủ đoạn thường gặp gồm:
(1) Không lắp đặt thiết bị giám sát hành trình theo quy định hoặc có lắp đặt nhưng thiết bị không hoạt động.
(2) Cố ý tắt thiết bị hoặc để thiết bị mất tín hiệu trong thời gian hoạt động trên biển.
(3) Tháo gỡ, cất giấu hoặc chuyển thiết bị sang tàu khác nhằm đánh lừa cơ quan quản lý.
(4) Can thiệp trái phép vào phần mềm, dữ liệu hoặc tín hiệu truyền của thiết bị để làm sai lệch vị trí, hành trình tàu cá.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2024, trường hợp hành vi can thiệp trái phép vào thiết bị giám sát hành trình đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 287 Bộ luật Hình sự.
3. Làm giả hồ sơ, giấy tờ để hợp thức hóa nguồn gốc thủy sản
Một thủ đoạn phổ biến khác là làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nhằm hợp thức hóa nguồn gốc thủy sản khai thác bất hợp pháp.
Các đối tượng thường hợp thức (làm hoặc sử dụng) giấy tờ giả như:
(1) Giấy tờ tùy thân, hộ chiêu, giấy thông hành, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế;
(2) Giấy tờ cấp cho người nước ngoài nhập cảnh, xuât cảnh, cư trú tại Việt Nam hoặc thẻ ABTC;
(3) Hồ sơ đăng ký đối với tàu cá;
(4) Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa;
(5) Chứng nhận kiểm dịch;
(6) Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền nuôi trồng thủy sản với loài có tên trong danh mục loai thủy sản xuất khẩu có điều kiện hoặc thủy sản cấm xuất khẩu;
(7) Hồ sơ, tài liệu giả khác nhằm hợp thức hóa hồ sơ xuất khẩu thủy sản;
(8) Giấy phép hoặc giấy chấp thuận khai thác thủy sản;
(9) Giấy tờ, tài liệu khác để hỗ trợ việc khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép thủy sản.
Hoặc hợp thức nguồn nguyên liệu thủy sản khai thác không rõ nguồn gốc phục vụ hoạt động xuất khẩu (chủ yếu vào EU), bằng cách: nhờ chủ tàu/thuyển trưởng ghi thêm khối lượng thủy sản đánh bắt được vào sổ nhật ký khai thác và xác nhận “khống” khối lượng bán cho Công ty; sau đó, Công ty dùng các tài liệu giả này lập hồ sơ xin cấp “Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác” (CC) và “Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác” (SC) nhằm hợp thức thủy sản khai thác không rõ nguồn gốc (mua trôi nổi trên thị trường hoặc nhập khẩu từ nước khác nhưng không có chứng nhận nguồn gốc..) phục vụ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản vào EU.
Các hành vi trên có thể bị xử lý về “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự.
4. Lợi dụng công nghệ và không gian mạng để thực hiện hành vi vi phạm
Các đối tượng thường sử dụng Zalo, Facebook, Messenger, Telegram, Viber và các ứng dụng liên lạc khác để trao đổi thông tin, phân công nhiệm vụ, cảnh báo hoạt động tuần tra của lực lượng chức năng. Bên cạnh đó, các đối tượng còn sử dụng sim điện thoại không chính chủ, nhiều tài khoản ngân hàng để nhận, chuyển tiền; liên lạc bằng điện thoại vệ tinh hoặc máy bộ đàm khi hoạt động trên biển và xóa toàn bộ lịch sử liên lạc sau khi thực hiện hành vi vi phạm nhằm che giấu chứng cứ.
Những hành vi nêu trên không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các cam kết quốc tế về chống khai thác IUU, cản trở quá trình gỡ bỏ cảnh báo “Thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC), làm giảm uy tín của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế và tác động đến sinh kế lâu dài của ngư dân.
Thực tiễn cho thấy các hành vi vi phạm liên quan đến khai thác IUU không còn chỉ bị xử lý hành chính mà đã bị xử lý nghiêm bằng chế tài hình sự. Nhiều vụ án về tổ chức đưa tàu cá, ngư dân khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài; can thiệp trái phép vào thiết bị giám sát hành trình (VMS); làm giả hồ sơ, tài liệu để hợp thức hóa nguồn gốc thủy sản đã được khởi tố, điều tra và xét xử. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác IUU, lũy kế từ đầu năm 2024 đến ngày 15/11/2025, cơ quan Công an đã khởi tố 91 vụ án hình sự với 136 bị can; các Tòa án đã xét xử 48 vụ án, 101 bị cáo. Đây là minh chứng rõ nét cho chủ trương xử lý nghiêm các hành vi vi phạm nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và nâng cao uy tín của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Điển hình như, ngày 15/4/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) đã xét xử lưu động vụ án liên quan đến khai thác IUU, tuyên phạt hai bị cáo cùng mức án 7 năm tù về tội “Cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử” quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 287 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đã tháo, gửi thiết bị giám sát hành trình (VMS) sang tàu khác để che giấu việc đưa tàu cá sang vùng biển giáp Indonesia khai thác thủy sản trái phép. Đây là một trong những vụ án đầu tiên áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự đối với hành vi can thiệp trái phép vào thiết bị giám sát hành trình trong đấu tranh chống khai thác IUU.
Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật để chung tay gỡ “Thẻ vàng” IUU
Để phòng ngừa vi phạm, chủ tàu, thuyền trưởng và ngư dân cần chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; tuyệt đối không đưa tàu cá sang vùng biển nước ngoài khai thác trái phép; duy trì hoạt động liên tục của thiết bị giám sát hành trình; ghi chép đầy đủ, trung thực nhật ký khai thác; chỉ khai thác tại vùng biển được phép và không tiếp tay cho các hành vi hợp thức hóa nguồn gốc thủy sản.
Khi phát hiện các hành vi tổ chức, môi giới, tiếp tay cho hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp hoặc các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến IUU, người dân cần kịp thời thông báo cho cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng hoặc cơ quan chức năng nơi gần nhất để được tiếp nhận, xử lý theo quy định của pháp luật.