Logo CAND

Hoàn thiện thể chế tư pháp người chưa thành niên: Từ những "điểm nghẽn" thực tiễn đến yêu cầu thống nhất áp dụng pháp luật

Thứ hai - 08/06/2026 09:44 367 0
Xử lý người chưa thành niên (NCTN) phạm tội là một lĩnh vực đặc thù, nơi ranh giới giữa tính nghiêm minh của pháp luật và tính nhân đạo của giáo dục luôn cần được cân bằng. Việc Quốc hội thông qua Luật Tư pháp NCTN (có hiệu lực từ 01/01/2026) là một bước tiến đột phá. Tuy nhiên, trong giai đoạn giao thoa với Bộ luật Hình sự (BLHS) hiện hành, thực tiễn áp dụng đang vấp phải những khó khăn, vướng mắc cần được nhận diện và tháo gỡ kịp thời.
Một là, Xung đột giữa mục tiêu “xử lý chuyển hướng” và quy trình “tố tụng hình sự”
          
Hiện nay, tồn tại một khoảng trống về ưu tiên áp dụng giữa BLHS và Luật Tư pháp NCTN.

          
BLHS quy định nguyên tắc xử lý, điều kiện chịu trách nhiệm hình sự, hình phạt và biện pháp tư pháp đối với NCTN phạm tội. Trong khi đó, Luật Tư pháp NCTN quy định nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng, cho phép không truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đủ điều kiện. Hệ quả, khi một hành vi vừa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo BLHS, vừa thuộc diện xem xét xử lý chuyển hướng theo Luật Tư pháp NCTN, cơ quan tiến hành tố tụng dễ rơi vào trạng thái “lúng túng”. Nếu áp dụng chuyển hướng quá sớm, dễ dẫn đến quan điểm cho rằng “bỏ lọt tội phạm” hoặc làm yếu đi tính răn đe. Ngược lại, nếu cứng nhắc theo lối mòn hình sự hóa, chúng ta đang đi ngược lại tinh thần nhân văn và mục tiêu phục hồi mà đạo luật mới hướng tới. Nhưng chưa có hướng dẫn thống nhất, cụ thể, dẫn đến khó khăn trong việc xem xét áp dụng biện pháp chuyển hướng để xử lý hoặc khởi tố bị can, phê chuẩn, áp dụng thời hạn tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố.

          
Hai là, Tính định tính và sự thiếu hụt “thước đo” trong các tiêu chí đánh giá

          
Một trong những rào cản lớn nhất là các điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng vẫn mang nặng tính định tính thay vì định lượng.

          
- Luật Tư pháp NCTN quy định nhiều tiêu chí để xem xét áp dụng xử lý chuyển hướng như: mức độ nguy hiểm của hành vi; khả năng nhận thức; nhân thân; điều kiện gia đình; khả năng tự cải tạo của người chưa thành niên. Tuy nhiên, các khái niệm như “khả năng tự cải tạo”, “điều kiện gia đình” hay “mức độ nhận thức” hiện chưa có bộ chỉ số đánh giá khách quan. Việc này dẫn đến nguy cơ áp dụng tùy nghi, phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người tiến hành tố tụng.

          
- Điểm yếu về nguồn lực: Báo cáo điều tra xã hội là “xương sống” để quyết định số phận pháp lý của NCTN - hiện chưa đảm bảo tính chuyên sâu do đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội còn thiếu và yếu, sự phối hợp giữa các địa phương chưa đồng bộ.

          
Ba là, Sự chồng chéo trong quy định về hình phạt và biện pháp giáo dục

          
Nghiên cứu sâu các quy định, ta thấy tồn tại những “điểm giao thoa” gây khó khăn cho thực tiễn áp dụng:

          
- Luật Tư pháp NCTN quy định Tòa án chỉ áp dụng hình phạt nếu biện pháp chuyển hướng không hiệu quả (khoản 2 Điều 12): “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.”

          
- Khoản 2 Điều 37 Luật Tư pháp NCTN quy định trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 38 của Luật này”. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 118 Luật Tư pháp NCTN vẫn duy trì hình phạt cải tạo không giam giữ, cụ thể: “Cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng”.
        
picture1 7
Ảnh minh họa (Nguồn: baochinhphu.vn)
Như vậy, nếu một hành vi có thể vừa áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, vừa có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, thì tiêu chí nào là “chốt chặn” để quyết định? Việc thiếu một ranh giới phân định rõ ràng tạo ra sự chồng chéo, khiến việc áp dụng pháp luật không thống nhất trên quy mô toàn quốc. Nếu áp dụng biện pháp chuyển hướng ngay từ đầu có thể dẫn đến việc đánh giá chưa đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, nếu khởi tố, điều tra và truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy trình tố tụng thông thường thì có thể chưa bảo đảm đầy đủ mục tiêu giáo dục, phục hồi đối với NCTN. Điều này đặt ra yêu cầu cần có hướng dẫn thống nhất để bảo đảm vừa không bỏ lọt tội phạm, vừa không hình sự hóa không cần thiết đối với NCTN.
          
Bốn là, Thách thức về tính chuyên biệt của đội ngũ người tiến hành tố tụng và cơ chế phối hợp liên ngành

          
Luật Tư pháp NCTN đặt ra yêu cầu cao về tính chuyên biệt trong hoạt động tố tụng. Theo đó, người tiến hành tố tụng phải được đào tạo, bồi dưỡng hoặc có kinh nghiệm trong giải quyết vụ án liên quan đến người chưa thành niên; có hiểu biết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với lứa tuổi này. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán dù giỏi về nghiệp vụ hình sự nhưng chưa được đào tạo chuyên sâu về tư pháp NCTN dẫn đến thiếu kỹ năng tâm lý đặc thù để làm việc với NCTN hay việc bố trí cán bộ chuyên trách chưa đồng đều giữa các địa phương. Điều này ảnh hưởng nhất định đến chất lượng giải quyết vụ án và hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.

          
Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tiến hành tố tụng với gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội. Các biện pháp giáo dục tại cộng đồng hiện nay vẫn đang ở tình trạng “giao khoán” cho chính quyền địa phương hoặc gia đình mà thiếu một quy trình giám sát, hỗ trợ và kinh phí thực hiện cụ thể. Điều này khiến các biện pháp chuyển hướng dễ rơi vào tình trạng hình thức, kém hiệu quả.

          
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

          
Để Luật Tư pháp NCTN thực sự phát huy giá trị khi đi vào đời sống, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

          
Thứ nhất, Liên ngành tư pháp Trung ương cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất việc áp dụng giữa Luật Tư pháp NCTN và BLHS, đặc biệt là tiêu chí lựa chọn áp dụng xử lý chuyển hướng hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

          
Thứ hai, cần nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cụ thể đối với các điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nhằm hạn chế việc áp dụng mang tính cảm tính, chủ quan.

          
Thứ ba, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và cán bộ làm công tác xã hội về tâm lý học lứa tuổi, kỹ năng giải quyết vụ việc liên quan đến NCTN.

          
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan tiến hành tố tụng với gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng đối với NCTN vi phạm pháp luật.

          
Việc ban hành Luật Tư pháp NCTN là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật nhân đạo của Nhà nước ta. Tuy nhiên, để đạo luật thực sự đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hướng dẫn thi hành, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan. Qua đó, vừa bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, vừa thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tác giả bài viết: Văn phòng CQCSĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây