Logo CAND

Một số hạn chế, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm”

Chủ nhật - 14/06/2026 05:53 349 0
Dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” được quy định trong nhiều điều luật của Bộ luật Hình sự năm 2015, trải rộng ở hầu hết các chương thuộc Phần các tội phạm. Đây là dấu hiệu đã xuất hiện từ Bộ luật Hình sự năm 1985, tiếp tục được kế thừa trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và hiện nay là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025). Về bản chất, đây là dấu hiệu phản ánh đặc điểm nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, tương tự như dấu hiệu “đã bị kết án chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
Về phương diện lý luận, nhân thân người phạm tội là một trong những căn cứ để đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Do đó, việc sử dụng dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” làm dấu hiệu định tội là có cơ sở nhất định. Dấu hiệu này phản ánh thái độ coi thường pháp luật của người vi phạm; đồng thời cho thấy các biện pháp xử lý hành chính trước đó không còn đủ khả năng giáo dục, răn đe. So với trường hợp vi phạm lần đầu, hành vi tái phạm sau khi đã bị xử phạt hành chính thể hiện mức độ nguy hiểm cao hơn, phản ánh sự hạn chế trong ý thức chấp hành pháp luật và thái độ thiếu ăn năn, sửa chữa sai phạm. Việc quy định dấu hiệu này trong cấu thành tội phạm còn nhằm tạo sự liên kết giữa pháp luật hành chính và pháp luật hình sự, bảo đảm tính phân hóa trong xử lý vi phạm pháp luật.
          
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy việc sử dụng dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” làm dấu hiệu định tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc cả về lý luận và thực tiễn.

          
Thứ nhất, việc sử dụng dấu hiệu nhân thân làm căn cứ định tội dễ dẫn đến sự thiếu thống nhất với nguyên tắc xác định tội phạm dựa trên tính nguy hiểm của hành vi.

          
Theo lý luận chung của Luật hình sự, tội phạm trước hết phải được xác định trên cơ sở hành vi khách quan gây nguy hiểm cho xã hội, chứ không chủ yếu dựa vào đặc điểm nhân thân của người thực hiện hành vi. Trong khi đó, dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” không phản ánh trực tiếp mức độ nguy hiểm của hành vi mới, mà chủ yếu phản ánh tình trạng pháp lý và quá trình xử lý trước đó đối với người vi phạm. Điều này dẫn đến tình trạng cùng một hành vi nhưng người chưa từng bị xử phạt hành chính có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong khi người đã từng bị xử phạt hành chính lại bị coi là tội phạm. Sự khác biệt này phần nào làm giảm tính công bằng và khách quan trong chính sách hình sự. Điển hình như, một số hành vi xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự xảy ra khá thường xuyên trên thực tế và nếu tính chất, mức độ nguy hiểm không đáng kể, chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì người thực hiện có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 282/2025/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, ví dụ như: cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 5 Điều 8); hành vi đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng thành viên gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 37); sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm b khoản 3 Điều 37). Nếu người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi tương tự thì cũng không cấu thành tội phạm. Việc không quy định dấu hiệu này cho Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự là một hạn chế của Bộ luật hình sự năm 2015, không đáp ứng yêu cầu đấu tranh đối với loại tội phạm này.

          
Thứ hai, nhiều trường hợp gặp khó khăn trong việc xác minh tiền sự của người vi phạm. Dữ liệu về xử phạt vi phạm hành chính hiện nay còn phân tán, chưa được đồng bộ hoàn toàn giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Trong một số vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn khi xác minh người thực hiện hành vi trước đó đã từng bị xử phạt hay chưa, quyết định xử phạt có còn hiệu lực hay đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc định tội danh và đánh giá căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

          
Thứ ba,
quy định này còn làm phát sinh sự chồng chéo giữa chế tài hành chính và chế tài hình sự.
          
Trong nhiều trường hợp, hành vi vi phạm lần đầu có tính chất, mức độ nguy hiểm tương đối lớn nhưng chưa đủ dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” nên chưa thể xử lý hình sự, ví dụ như: A tham gia đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa với số tiền dùng để đánh bạc là 4.900.000 đồng. Quá trình xác minh cho thấy A chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc. Mặc dù hành vi của A diễn ra công khai, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và có sự tham gia của nhiều đối tượng, nhưng theo Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, người đánh bạc chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hay đã bị kết án về hành vi này mà chưa được xóa án tích. Vì vậy, trong trường hợp này A chỉ bị xử phạt hành chính. Ngược lại, có trường hợp hành vi tái phạm nhưng mức độ nguy hiểm thực tế không lớn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ vì đã từng bị xử phạt hành chính trước đó, ví dụ như: B từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.000.000 đồng. 06 tháng sau, B tiếp tục tham gia đánh bạc dưới hình thức ghi số đề với số tiền chỉ 250.000 đồng. Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm thực tế, hành vi lần sau của B có giá trị nhỏ, hậu quả xã hội không lớn. Tuy nhiên, do trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nên lần vi phạm tiếp theo này đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong trường hợp này, việc truy cứu trách nhiệm hình sự chủ yếu xuất phát từ đặc điểm nhân thân của người vi phạm hơn là từ tính nguy hiểm thực tế của hành vi mới thực hiện.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc xác định một hành vi là tội phạm cần đảm bảo tính nguy hiểm đáng kể vì khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Điều này dẫn đến nguy cơ hình sự hóa các quan hệ hành chính hoặc bỏ lọt những hành vi nguy hiểm đáng lẽ cần xử lý hình sự ngay từ lần đầu thực hiện.
          
Thứ , quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” trong một số cấu thành tội phạm có thể dẫn đến bất lợi đối với người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi quy định trong Bộ luật hình sự khi so sánh với dấu hiệu “đã bị kết án chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
          
Theo Điều 137 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025), người chưa thành niên bị xử phạt vi phạm hành chính được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nếu trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định mà không tái phạm; trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì thời hạn này là 01 năm. Mặc dù thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên ngắn hơn so với người thành niên (chỉ bằng ½ về thời hạn đối với người đã thành niên bị xử phạt vi phạm hành chính), nhưng pháp luật hiện hành vẫn ghi nhận một khoảng thời gian mà trong đó việc đã bị xử phạt vi phạm hành chính có thể trở thành căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người đó tiếp tục thực hiện hành vi thuộc trường hợp luật hình sự quy định.
          
Trong khi đó, chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật Hình sự năm 2015 lại thể hiện rõ tính nhân đạo và định hướng giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai lầm, tái hòa nhập xã hội. Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định nhiều trường hợp người dưới 18 tuổi bị kết án nhưng được coi là không có án tích. Cụ thể, khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý; người bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đều được coi là không có án tích. Chỉ trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mới phải mang án tích và thời hạn được xóa án tích theo các điều kiện luật định (khoản 2 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015).
          
Từ sự khác biệt nêu trên có thể thấy một nghịch lý trong thực tiễn áp dụng pháp luật,
nếu so với quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 về xóa án tích cho người dưới 18 tuổi phạm tội thì quy định tại Điều 137 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 gây bất lợi cho người thực hiện hành vi. Đối với người dưới 18 tuổi, việc đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong một số trường hợp lại trở thành căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với lần vi phạm tiếp theo; trong khi trước đó bị kết án là hình thức cưỡng chế nặng hơn bị xử phạt hành chính thì lần sau lại không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội phạm mà họ thực hiện thuộc trường hợp được coi là không có án tích theo Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hay nói cách khác, nếu đã bị kết án còn có lợi hơn đã bị xử phạt hành chính đối với người vi phạm. Ví dụ như: C (17 tuổi) bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Sau 03 tháng, C tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng. Trong trường hợp điều luật có quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm”, C có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu trước đó C bị kết án về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (tội phạm ít nghiêm trọng) và đã chấp hành xong bản án, thì theo điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, C được coi là không có án tích. Do đó, khi tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng, hành vi này không thuộc trường hợp “đã bị kết án chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” nên C không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy định về án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo hướng nhân đạo, phù hợp với chính sách chung cho người dưới 18 tuổi nên quy định này cần được phát huy, do đó cần nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật hình sự về dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” nhằm khắc phục bất cập này.
          
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm”
          
Thứ nhất,
cần bổ sung thêm dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” trong một số tội phạm.
          
Quy định này có thể được quy định trong một số tội xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự như Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Điều 155 Tội làm nhục người khác, Điều 156 Tội vu khống. Theo đó, dấu hiệu này có thể được sử dụng để bổ sung hoặc kết hợp với một số dấu hiệu định tính khó xác định trong thực tiễn như “xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác”. Việc bổ sung quy định nêu trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh đối với các hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đang có xu hướng gia tăng, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất hơn cho hoạt động áp dụng pháp luật. Theo đó, các điều luật được sửa đổi như sau:
          
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
          

          
l
) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Điều 155. Tội làm nhục người khác
          
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
          
Điều 156. Tội vu khống
          
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
          
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;
          
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
          
Thứ hai, đ
ể bảo đảm tính chính xác, thống nhất và khả thi trong áp dụng pháp luật hình sự, cần khẩn trương hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính theo hướng tập trung, liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; đồng thời rà soát, sửa đổi các quy định của Bộ luật Hình sự đang sử dụng dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm theo hướng hạn chế phụ thuộc vào yếu tố tiền sự, tăng cường sử dụng các tiêu chí phản ánh trực tiếp tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Theo đó, cần hạn chế việc sử dụng dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” như là dấu hiệu định tội, thay vào đó nên xem đây là tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đây là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
          
Thứ ba,
cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực để tránh sự chồng chéo, không phân định rõ ranh giới giữa tội phạm với các vi phạm hành chính nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi trong thực tiễn áp dụng pháp luật; đồng thời bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm gắn với bảo vệ quyền con người và nguyên tắc công bằng trong xử lý hình sự.
          
Thứ tư,
cần nghiên cứu, sửa đổi quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng việc xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi không làm phát sinh tiền sự cho người vi phạm. Việc sửa đổi này phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên quy định tại khoản 1 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính là “Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”; đồng thời nhất quán chung trong chính sách pháp luật của Nhà nước đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Bộ luật hình sự năm 2015, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo hướng khoan hồng, nhân đạo hơn. Mặt khác, việc sửa đổi như vậy cũng phù hợp với chủ trương hướng thiện, nhân đạo trong xử lý trách nhiệm cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật theo tinh thần Công ước quốc tế về quyền trẻ em.

Tác giả bài viết: Văn phòng CQCSĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây