Công an tỉnh Gia Laihttps://congan.gialai.gov.vn:/uploads/no-image.png
Thứ tư - 03/06/2026 04:392030
Ngày 11/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định số 21-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng với tinh thần kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý sai phạm, mà tập trung vào “kiểm soát hành vi, chủ động cảnh báo sớm” và “kiểm soát quyền lực thực chất”.
Quy định số 21-QĐ/TW kế thừa cơ bản nội dung của Quy định 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, bổ sung, lược bỏ một số nội dung không còn phù hợp, đảm bảo đồng bộ, thống nhất với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các quy định mới của Trung ương, pháp luật của Nhà nước. Những điểm mới, cốt lõi tập trung vào việc bổ sung nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp; phân cấp, tăng thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm; bổ sung nguyên tắc, nội dung giải quyết tố cáo phù hợp với tình hình thực tiễn... cụ thể như sau:
Ảnh: Đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm UBKT Trung ương quán triệt chuyên đề “Những vấn đề mới, cốt lõi của Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”
1. Hoàn thiện nguyên tắc công bằng, minh bạch và phòng ngừa vi phạm
Quy định số 21-QĐ/TW tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa nguyên tắc: Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ. Bổ sung yêu cầu việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, giúp tổ chức đảng, đảng viên nhận thức rõ khuyết điểm, vi phạm để sửa chữa, khắc phục và làm tốt hơn; yêu cầu tổ chức đảng, đảng viên không chỉ “tự kiểm tra” mà còn phải “tự giám sát”.
Điều này cho thấy công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở xử lý hậu quả mà đang chuyển mạnh sang tư duy phòng ngừa, cảnh báo sớm và ngăn ngừa vi phạm từ xa, đề cao trách nhiệm tự soi, tự sửa, nâng cao tính tự giác trong rèn luyện, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương của Đảng 2. Tăng cường công tác phối hợp trong công tác kiểm tra, giám sát Bổ sung trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng trong việc ban hành quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan công an, quân đội, thanh tra, kiểm toán, viện kiểm sát, tòa án và các cơ quan liên quan. Trong bối cảnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngày càng quyết liệt, yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Điểm mới này có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở để hình thành cơ chế phối hợp đồng bộ giữa công tác kiểm tra của Đảng với hoạt động thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Qua đó nâng cao khả năng phát hiện sớm vi phạm, xử lý nghiêm minh, đồng thời khắc phục tình trạng chồng chéo, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan. 3. Mở rộng mạnh mẽ thẩm quyền và công cụ của ủy ban kiểm tra
Quy định cho phép ủy ban kiểm tra được kết nối cơ sở dữ liệu của nhiều lĩnh vực như ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án… để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát. Đây là bước tiến quan trọng trong xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực bằng dữ liệu số và công nghệ hiện đại.
Cùng với đó, quy định bổ sung nhiều biện pháp nghiệp vụ cho ủy ban kiểm tra như ghi âm, ghi hình; niêm phong hồ sơ, tài liệu; đề nghị phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. Bổ sung cơ chế chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, qua đó tăng cường sự liên thông giữa kỷ luật Đảng và xử lý theo pháp luật Nhà nước. Tăng thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong thi hành kỷ luật đảng viên, cho phép Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên, cấp ủy viên cấp trên cơ sở trở xuống. Ngoài ra, Quy định số 21-QĐ/TW cũng quy định rõ hơn về thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm của ban thường vụ, đảng ủy cấp trên trực tiếp cơ sở và ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương. 4. Thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số và quản trị hiện đại
Để phù hợp với yêu cầu xây dựng nền quản trị hiện đại, minh bạch và số hóa hoạt động công vụ, quy định bổ sung nội dung kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chuyển đổi số. Đồng thời, quy định cho phép phát hiện dấu hiệu vi phạm thông qua phần mềm giám sát và hệ thống cơ sở dữ liệu số. Đây là bước chuyển quan trọng từ phương thức kiểm tra thủ công sang kiểm tra dựa trên dữ liệu, góp phần nâng cao tính chủ động, kịp thời, chính xác và khách quan trong công tác kiểm tra, giám sát. 5. Chuẩn hóa khái niệm, bảo đảm thống nhất trong áp dụng
Quy định số 21-QĐ/TW bổ sung bốn khái niệm mới gồm: “Nhiệm vụ chuyên môn được giao”, “Nhiệm vụ cấp ủy giao”, “Nhiệm vụ cấp trên giao” và “Chức vụ trong Đảng”. Việc chuẩn hóa các khái niệm này có ý nghĩa quan trọng trong xác định trách nhiệm, tính chất, mức độ vi phạm, tránh cách hiểu không thống nhất giữa các cấp, các ngành; đồng thời tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn trong xem xét, xử lý kỷ luật. Quy định cũng làm rõ hơn vị trí, chức năng của cơ quan ủy ban kiểm tra là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của cấp ủy và của ủy ban kiểm tra. 6. Sửa đổi nguyên tắc thi hành kỷ luật và đình chỉ sinh hoạt đảng
Quy định bổ sung trường hợp tạm thời chưa xem xét kỷ luật đối với đảng viên nam đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do bất khả kháng. Điều này thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng với tính nhân văn, phù hợp với thực tiễn.
Quy định cũng sửa đổi cách tính thời hạn chấp hành kỷ luật khi thay đổi hình thức kỷ luật, bảo đảm chặt chẽ, thống nhất và phù hợp thực tiễn. Đồng thời, lược bỏ trường hợp “bị tạm giam” khỏi diện đương nhiên đình chỉ sinh hoạt đảng, chỉ giữ lại trường hợp bị khởi tố, truy tố. Đây là sự điều chỉnh quan trọng, thể hiện cách tiếp cận thận trọng, tránh áp dụng máy móc khi chưa có căn cứ pháp lý đủ rõ ràng. 7. Hoàn thiện cơ chế giải quyết tố cáo, khiếu nại
Quy định số 21-QĐ/TW sửa đổi, bổ sung nội dung về giải quyết tố cáo, khiếu nại theo hướng chặt chẽ, cụ thể và khả thi hơn. Xác định rõ thời hạn giải quyết tố cáo: tối đa 60 ngày đối với cấp tỉnh và tương đương trở xuống; tối đa 90 ngày đối với cấp Trung ương. Yêu cầu cơ quan tiếp nhận tố cáo phải phân loại, xác minh, xử lý hoặc chuyển đơn đúng thẩm quyền, tránh tình trạng kéo dài, né tránh trách nhiệm. Việc kết luận giải quyết tố cáo phải xác định rõ từng mức độ: tố cáo sai; tố cáo không có cơ sở; tố cáo đúng nhưng có khuyết điểm; tố cáo đúng và có vi phạm. Việc phân định rõ như vậy góp phần nâng cao tính khách quan, minh bạch và thuyết phục trong kết luận giải quyết tố cáo. Quy định cũng làm rõ các trường hợp không xem xét giải quyết tố cáo, trong đó có trường hợp người tố cáo được mời hai lần nhưng không đến làm việc mà không có lý do chính đáng.
Có thể khẳng định, Quy định số 21-QĐ/TW thể hiện bước chuyển mạnh về tư duy, phương thức và công cụ kiểm tra, giám sát của Đảng trong giai đoạn mới. Tinh thần xuyên suốt của quy định là: Kiểm tra phải đi trước một bước; Giám sát phải mở rộng; Kỷ luật phải nghiêm minh nhưng nhân văn; Kiểm soát quyền lực phải thực chất; Phòng ngừa vi phạm phải từ sớm, từ xa.