Trước hết, Quy định số 06-QĐ/TW đã xác lập một khuôn khổ quản lý thẻ đảng viên thống nhất, đồng bộ và chặt chẽ hơn. Nội dung quản lý được quy định toàn diện, đầy đủ các khâu từ cấp mới, cấp lại; sản xuất, in, hủy thẻ đến hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. So với các quy định trước đây, quy trình quản lý được thiết kế khoa học hơn, bảo đảm tính liên thông trong toàn hệ thống tổ chức Đảng, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
Quy định mới đã mở rộng phạm vi sử dụng thẻ đảng viên, ngoài việc sử dụng trong sinh hoạt đảng và đại hội đảng các cấp (trừ trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín), thẻ đảng viên còn được xác định là công cụ thực hiện các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử theo quy định. Đây là điểm đổi mới có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng cho việc từng bước số hóa các quy trình nghiệp vụ, giảm thiểu thủ tục hành chính thủ công, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý đảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số.
Song song với việc hiện đại hóa phương thức quản lý, Quy định 06-QĐ/TW đã làm rõ trách nhiệm cá nhân của đảng viên trong quản lý, sử dụng thẻ. Theo đó, đảng viên có trách nhiệm bảo quản, sử dụng thẻ đúng mục đích; nghiêm cấm các hành vi cho mượn, cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố; không đăng tải hình ảnh thẻ lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc sử dụng thẻ không phải của mình; không tự ý hủy thẻ. Đồng thời, yêu cầu đảng viên kịp thời báo cáo bằng văn bản khi thẻ bị sai, hỏng hoặc mất để được xem xét cấp lại; xác định rõ trách nhiệm nộp lại thẻ trong các trường hợp xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên hoặc đưa ra khỏi Đảng. Đối với đảng viên từ trần, gia đình được giữ thẻ nhưng không được sử dụng trái quy định, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa tính nhân văn và yêu cầu kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Trong bối cảnh môi trường số phát triển mạnh mẽ, việc quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, nhất là những hành vi liên quan đến khai thác, sử dụng thông tin thẻ đảng viên trên không gian mạng, thể hiện sự chủ động của Đảng trong phòng ngừa rủi ro, bảo vệ dữ liệu và thông tin đảng viên.
Bên cạnh trách nhiệm cá nhân, quy định mới tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt của chi bộ và cấp ủy cơ sở trong quản lý thẻ đảng viên. Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm quán triệt, hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng thẻ; đề nghị cấp có thẩm quyền cấp mới, cấp lại; tổ chức phát thẻ tại cuộc họp chi bộ gần nhất; hằng năm kiểm tra thẻ trong dịp kiểm điểm, đánh giá, xếp loại đảng viên và báo cáo cấp trên. Việc gắn công tác quản lý thẻ đảng viên với các quy trình thường xuyên của công tác xây dựng Đảng ở cơ sở không chỉ nâng cao tính chặt chẽ, thống nhất mà còn góp phần chuẩn hóa quy trình quản lý theo hướng hành chính – nghiệp vụ hiện đại, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở.
Quy định mới cũng quy định cụ thể các hành vi vi phạm và chế tài xử lý trong quản lý, sử dụng thẻ đảng viên. Các hành vi như tự ý trả hoặc hủy thẻ, sử dụng thẻ sai quy định, làm mất thẻ không có lý do chính đáng, cho người khác sử dụng thẻ… đều được xác định rõ và bị xem xét xử lý theo quy định của Đảng. Đặc biệt, các hành vi làm giả thẻ đảng viên, bao che hoặc không tố giác vi phạm không chỉ bị xử lý nghiêm theo kỷ luật Đảng mà còn có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật Nhà nước, thể hiện quan điểm nhất quán trong việc siết chặt kỷ luật, tăng cường tính răn đe và bảo vệ nghiêm ngặt giá trị pháp lý, chính trị của thẻ đảng viên trong điều kiện quản lý số hóa.
Có thể khẳng định, Quy định số 06-QĐ/TW của Ban Bí thư về quản lý và sử dụng thẻ đảng viên là một bước tiến quan trọng trong đổi mới phương thức quản lý đảng viên, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính trong Đảng gắn với chuyển đổi số. Việc chuẩn hóa quy trình, đề cao trách nhiệm, tăng cường kỷ luật và mở rộng ứng dụng thẻ đảng viên trên môi trường điện tử không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo nền tảng vững chắc để xây dựng tổ chức Đảng ngày càng hiện đại, khoa học, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.